Mua da làm túi cần biết ba thứ trước khi trả tiền: da được bán theo đơn vị nào (cả con, nửa con, phần lưng, vai, bụng; tính diện tích theo feet vuông hoặc đề-xi-mét vuông), cần độ dày bao nhiêu cho từng bộ phận, và lượng da thực tế phải mua sau khi tính hao hụt. Phụ liệu như chỉ, keo, sơn cạnh, khoá kéo và phần cứng kim loại chọn theo việc, không theo giá, vì chúng thường hỏng trước tấm da.
Bài này dành cho người làm túi thủ công, người mới mở xưởng nhỏ và người muốn tự mua da mang tới thợ. Đi qua: cách da được bán và đo, các vùng trên tấm da hợp với bộ phận nào, độ dày theo bộ phận, cách tính lượng da cần, các lỗi da cần soi khi nhận, và bảng phụ liệu kèm cách chọn.
Da được bán và đo thế nào
Da thuộc không bán theo mét như vải. Tấm da giữ hình dạng của con vật, nên đơn vị bán thường là cả tấm (cả con), nửa tấm cắt dọc sống lưng (nửa con), hoặc từng phần: lưng, vai, bụng. Mỗi tấm được đo diện tích bằng máy đo hoặc ước lượng, ghi theo feet vuông hoặc đề-xi-mét vuông; một feet vuông xấp xỉ 9,29 đề-xi-mét vuông. Giá thường tính theo diện tích, nhưng bạn phải mua nguyên tấm hoặc nguyên phần, không mua được đúng số diện tích mình cần.
Diện tích ghi trên tấm da là diện tích bao gồm cả mép, chỗ lỗi và phần vùng bụng mỏng. Vì vậy diện tích dùng được luôn nhỏ hơn diện tích mua. Một số nơi bán da vụn, da thừa theo cân hoặc theo túi, hợp cho chi tiết nhỏ như miếng da treo, viền quai, ví nhỏ, nhưng khó dùng cho thân túi lớn vì không đủ mảnh liền.
Độ dày da ghi bằng milimet, hoặc theo đơn vị ounce ở những nơi theo thói quen thị trường Mỹ; một ounce độ dày tương đương khoảng 0,4 milimet. Da thường được lạng theo một khoảng, ví dụ từ 1,2 đến 1,4 milimet, chứ không đều tuyệt đối trên cả tấm. Khi mua cho việc cần độ dày chính xác, hỏi người bán có nhận lạng lại theo yêu cầu không.
Cũng nên hỏi về cách hoàn thiện mặt da, vì nó ảnh hưởng tới cả cách may lẫn cách chăm. Da mộc chưa nhuộm hoặc nhuộm nhẹ sẽ sẫm dần theo thời gian và bắt vết tay; da nhuộm xuyên có màu đều cả mặt cắt nên mép cạnh đẹp hơn khi đánh bóng; da phủ màu bề mặt che được lỗi nhỏ, ít bám bẩn nhưng mép cắt lộ màu khác và thường phải sơn cạnh. Ba loại này có thể cùng ghi là da bò, nên đừng chỉ hỏi tên da.
Các vùng trên tấm da và bộ phận túi hợp với từng vùng
Cùng một tấm da nhưng mỗi vùng có độ chắc, độ giãn khác nhau. Cắt đúng vùng cho đúng bộ phận là bí quyết đầu tiên để túi bền:
| Vùng da | Đặc điểm | Hợp với | Tránh dùng cho |
|---|---|---|---|
| Lưng (dọc sống lưng) | Chắc, thớ đều, ít giãn, ít nếp | Quai, thân túi chịu lực, đáy, nắp | Không có hạn chế lớn, chỉ là vùng quý nhất |
| Vai và cổ | Có nếp nhăn tự nhiên, hơi mềm hơn lưng | Thân túi mềm, túi hobo, mặt ngoài cần vẻ tự nhiên | Quai dài cần thẳng và đều |
| Bụng và sườn | Mềm, xốp, giãn nhiều, độ dày không đều | Lót, ngăn trong, chi tiết không chịu lực | Quai, đáy, chỗ gắn khoen |
| Mép tấm da | Mỏng, nhiều lỗi, thớ lỏng | Thử dao, thử màu, thử sơn cạnh | Mọi bộ phận lộ ra ngoài |
Khi xếp rập lên da, đặt các mảnh chịu lực (quai, đáy, chân quai) vào vùng lưng trước, rồi mới xếp thân, sau cùng là lót và chi tiết nhỏ vào vùng mềm. Xếp ngược lại là cách nhanh nhất để có một chiếc túi xệ quai sau vài tháng.
Độ dày theo từng bộ phận: khoảng thường gặp
Không có con số đúng cho mọi chiếc túi, vì còn tuỳ loại da và kiểu dáng. Những khoảng dưới đây là điểm khởi đầu thường gặp trong nghề, nên thử trên mẩu da trước:
- Ví, ví đựng thẻ, chi tiết gập nhiều lớp: da mỏng, khoảng dưới 1 milimet đến 1,2 milimet, để khi chồng nhiều lớp vẫn không dày cộm.
- Thân túi mềm, túi tote, hobo: khoảng 1,2 đến 1,6 milimet tuỳ độ mềm mong muốn; da mềm hơn cho dáng chùng, da chắc hơn cho dáng đứng.
- Thân túi đứng dáng, cặp da, túi hộp: da dày hơn hoặc da vừa phải kết hợp lớp gia cố bên trong.
- Quai đeo, quai xách: thường dày hơn thân, hoặc dán hai lớp da mỏng mặt trái vào nhau để quai đẹp cả hai mặt và không giãn.
- Đáy túi: có thể dùng da dày hơn thân hoặc thêm tấm gia cố; đáy là nơi chịu mài mòn khi đặt túi xuống.
- Lót bằng da: mỏng, mềm, thường lấy từ vùng bụng hoặc da cừu, da dê mỏng.
Khi mua lần đầu với một nhà cung cấp, xin mẩu nhỏ của hai, ba độ dày để gập thử, may thử. Cảm giác trên tay quan trọng hơn con số ghi trên phiếu.
Tính lượng da cần mua cho một mẫu túi
Cách làm dưới đây giúp tránh cả hai lỗi: mua thiếu phải mua thêm tấm khác (có thể lệch màu) và mua thừa đọng vốn:
- Làm rập đủ mảnh bằng giấy bìa, đánh số từng mảnh, ghi mảnh nào cần cắt từ vùng chắc.
- Tính diện tích từng mảnh (dài × rộng với mảnh chữ nhật; mảnh cong thì ước theo hình chữ nhật bao ngoài), cộng lại thành diện tích rập.
- Cộng hao hụt. Rập không khít nhau như gạch lát; phải tránh sẹo, lỗ, vùng mỏng; có mảnh phải cắt theo hướng thớ. Hao hụt thực tế phụ thuộc hình dạng rập và chất lượng da. Ví dụ giả định: rập cần 6 feet vuông, hao hụt ước 30% thì nên tính khoảng 8 feet vuông da dùng được.
- Đối chiếu với tấm da thật. Diện tích dùng được của tấm da nhỏ hơn diện tích ghi; nếu tấm da nhiều lỗi, phải cộng thêm.
- Mua một lần đủ cho cả lô. Da cùng tấm hoặc cùng mẻ nhuộm đồng màu hơn; mua thêm sau có thể lệch sắc độ rõ.
Ghi lại diện tích thực dùng sau mỗi lần làm. Sau vài chiếc, bạn sẽ có hệ số hao hụt của chính mình cho từng mẫu, chính xác hơn mọi con số ước lượng.
Kiểm lỗi da khi nhận hàng
Trải tấm da dưới ánh sáng ban ngày, xem cả hai mặt. Mặt cật (mặt ngoài) để tìm sẹo, vết xước, vết côn trùng cắn, vết hằn; mặt trái để xem độ chắc của thớ và chỗ mỏng bất thường.
Sẹo và vết xước lành. Là dấu vết tự nhiên của con vật; với túi phong cách mộc có thể chấp nhận ở chỗ khuất, nhưng tránh ở mặt chính và chỗ chịu lực.
Lỗ thủng, vết cắt khi lột da. Đánh dấu bằng phấn, tính trừ khỏi diện tích dùng được.
Thớ lỏng, da "bủng". Gập mặt cật vào trong: nếu mặt ngoài nhăn thành nếp nhỏ li ti như vỏ cam, thớ da ở đó lỏng, dễ nhăn khi dùng; không nên dùng cho mặt chính.
Màu và mùi. So màu với mẩu đã chọn; da có mùi hắc lạ hoặc mùi mốc nên hỏi lại nhà cung cấp trước khi cắt.
Ghi nhận ngay, đừng để tới lúc cắt. Chụp ảnh các lỗi lớn kèm thước đặt cạnh và gửi cho người bán trong ngày nhận hàng. Nhiều nhà cung cấp chấp nhận đổi hoặc bù diện tích khi tấm da lỗi quá mức thoả thuận, nhưng gần như không ai nhận lại tấm da đã bị cắt dở. Thói quen này cũng giúp bạn biết nhà cung cấp nào giao da ổn định để mua lâu dài.
Mua da ở đâu, và mua từ xa sao cho ít rủi ro
Nguồn da cho người làm túi thường gồm ba nhóm. Tiệm và đại lý da thuộc bán lẻ theo tấm hoặc phần, có sẵn nhiều màu, cho xem tận tay, hợp với người làm nhỏ. Nhà máy thuộc da và nhà phân phối lớn thường bán theo số lượng tối thiểu, giá mỗi feet vuông có thể tốt hơn nhưng đòi mua nhiều và ít lựa chọn tấm. Cuối cùng là nguồn da thừa, da tồn từ các xưởng sản xuất lớn, giá mềm nhưng màu và độ dày không đồng nhất, hợp cho sản phẩm nhỏ hoặc lô ít.
Mua trực tiếp vẫn là cách tốt nhất cho tấm da đầu tiên: bạn sờ được độ mềm, gập thử, xem màu dưới ánh sáng ngoài cửa. Khi phải mua từ xa, xin người bán quay video trải đúng tấm da sẽ giao, cả mặt cật và mặt trái, có thước đặt cạnh; hỏi diện tích ghi trên tấm và tỷ lệ lỗi chấp nhận; xin gửi mẩu nhỏ trước nếu đây là nhà cung cấp mới.
Hỏi thêm về khả năng cung cấp lại cùng loại da trong vài tháng tới. Nếu bạn định làm một mẫu túi bán lâu dài, một nguồn da ổn định quan trọng hơn mức giá rẻ nhất của một lần mua.
Cất da và phụ liệu trong xưởng nhỏ qua mùa nồm
Da thuộc là vật liệu hút ẩm. Cuộn da để sát tường, sát sàn trong những tuần nồm ẩm có thể lên mốc trắng ở mặt trái, loang màu ở mặt cật, và mùi ẩm ngấm vào thành phẩm. Nên cuộn da lỏng tay với mặt cật hướng ra ngoài, quấn bằng vải cotton hoặc giấy, đặt trên giá cách sàn, nơi thoáng và tránh nắng trực tiếp. Không gấp da thành nếp vì vết gấp trên da dày khó mất.
Phụ liệu cũng cần chỗ cất riêng. Keo và sơn cạnh đậy kín nắp, để nơi mát, xa nguồn nhiệt và xa tầm trẻ nhỏ; keo đặc lại hoặc tách lớp là dấu hiệu nên thay. Phần cứng kim loại mạ để trong hộp kín có gói hút ẩm để tránh xỉn trước khi dùng. Chỉ sáp ít bị ảnh hưởng, nhưng chỉ lin để lâu nơi ẩm có thể yếu đi. Một cái máy hút ẩm nhỏ cho góc xưởng thường đáng đầu tư hơn nhiều so với tiền da phải bỏ đi vì mốc.
Phụ liệu và cách chọn theo việc
Phụ liệu chiếm phần nhỏ trong chi phí nhưng quyết định chiếc túi có phải mang đi sửa sớm hay không:
| Phụ liệu | Các loại thường gặp | Chọn thế nào |
|---|---|---|
| Chỉ may tay | Chỉ sáp polyester bện, chỉ lin sáp | Polyester bện bền, ít mục trong khí hậu ẩm; cỡ chỉ hợp với khoảng cách mũi đục |
| Chỉ may máy | Chỉ polyester, chỉ nylon liên kết | Hợp cỡ kim và máy; chỉ quá mảnh cho đường chịu lực dễ đứt |
| Keo | Keo gốc dung môi, keo gốc nước | Keo dung môi bám mạnh nhưng cần thông gió, tránh lửa; keo gốc nước dễ chịu hơn cho xưởng nhỏ trong nhà |
| Hoàn thiện cạnh | Sơn cạnh, đánh bóng cạnh bằng sáp hoặc gum | Da thuộc thực vật đánh bóng cạnh đẹp; da thuộc crôm thường cần sơn cạnh |
| Khoá kéo | Răng kim loại, răng nhựa đúc, răng xoắn nylon | Miệng túi lớn chọn cỡ răng to hơn; răng xoắn mềm, hợp đường cong |
| Phần cứng | Đồng thau đặc, hợp kim kẽm mạ, thép không gỉ | Đồng thau đặc và thép không gỉ bền màu hơn; hợp kim mạ mỏng dễ xỉn, bong |
Mua phụ liệu theo bộ cho một mẫu túi (cùng màu mạ, cùng tông chỉ) và mua dư một ít để thay khi sửa. Khi cần nguồn da và phụ liệu gần nơi mình, có thể tham khảo các doanh nghiệp đồ da, xưởng túi trong danh bạ theo tỉnh trên trang, vì nhiều nơi bán lại da thừa hoặc chỉ cho chỗ mua phụ liệu uy tín.
Câu hỏi thường gặp
Người mới làm túi nên mua cả tấm da hay mua da vụn?
Với vài sản phẩm nhỏ như ví, móc khoá, túi mini, da vụn đủ dùng và rẻ để tập. Khi làm túi cỡ vừa trở lên, mảnh thân cần liền và đồng màu, nên mua nửa tấm hoặc phần lưng sẽ hợp hơn. Có thể chung mua một tấm với người cùng làm để chia chi phí.
Da thuộc thực vật và da thuộc crôm, người mới nên chọn loại nào?
Da thuộc thực vật cứng hơn, dễ cắt sắc, đánh bóng cạnh đẹp, lên màu cũ theo thời gian nhưng dễ bám nước và vết bẩn. Da thuộc crôm mềm, bền nước hơn, nhiều màu, nhưng cạnh thường phải sơn. Người mới tập may tay thường thấy da thuộc thực vật dễ làm hơn.
Một feet vuông da làm được bao nhiêu?
Một feet vuông xấp xỉ một hình vuông cạnh khoảng ba mươi phân. Đủ cho vài ví thẻ nhỏ, nhưng một chiếc túi tote cỡ vừa cần nhiều feet vuông cộng thêm hao hụt. Cách đáng tin nhất là tính diện tích rập của chính mẫu mình làm rồi cộng hao hụt.
Có nên dùng keo thay cho đường may để tiết kiệm thời gian?
Keo dùng để giữ các lớp cố định trước khi may và dán những chỗ không chịu lực. Quai, chân quai, đáy và miệng túi nên được may, vì keo lão hoá theo nhiệt và độ ẩm. Túi chỉ dán keo ở chỗ chịu lực thường bong sau thời gian ngắn.
Làm sao tránh lệch màu giữa các lần mua da?
Mua một lần đủ cho cả lô sản phẩm, ghi lại mã màu và mẻ nếu nhà cung cấp có, và giữ một mẩu da mẫu để so khi mua lần sau. Với sản phẩm bán lâu dài, nên chọn màu da phổ biến mà nhà cung cấp làm thường xuyên.
Làm đồ da trong nhà có cần lưu ý gì về an toàn?
Keo gốc dung môi và một số chất hoàn thiện có hơi độc, dễ cháy, cần thông gió tốt, tránh xa lửa và cất xa tầm trẻ nhỏ. Dao lạng da rất sắc, nên cắt hướng ra xa người. Bụi da khi chà nhám nên đeo khẩu trang và lau dọn thường xuyên.